Lịch sử chùa Một Cột dài gần một nghìn năm, từ lúc vua Lý Thái Tông cho dựng chùa Diên Hựu năm 1049, qua nhiều lần sửa, hoang phế, đến tháng 9/1954 chùa bị đánh mìn sập và được dựng lại ngay năm sau. Mình thấy biết những mốc này rồi mới đến chùa thì nhìn cây cột đá, mặt hồ vuông hay cây bồ đề trong vườn sẽ khác hẳn. Bài này đi theo từng mốc, tách riêng phần giai thoại khỏi phần sử chép, và chỉ ra những gì còn thấy được khi đến chùa hôm nay.
Mục lục
- Sự tích chùa Một Cột và năm 1049
- Thời Lý: chuông Quy Điền và quần thể Diên Hựu
- Thời Trần, Lê: sửa lại rồi hoang phế
- Thời Nguyễn: dáng chùa như hiện nay
- Năm 1954: chùa bị đánh mìn
- Năm 1955: dựng lại
- Từ 1958 đến nay
- Đến chùa hôm nay, còn thấy gì từ lịch sử

Tóm tắt nhanh lịch sử chùa Một Cột:
| 1049 | Dựng chùa Diên Hựu, đời Lý Thái Tông |
| 1080 | Đúc chuông lớn, sau gọi là chuông Quy Điền |
| 1105 | Lý Nhân Tông sửa chùa, đào hồ Linh Chiểu, hồ Bích Trì, xây bảo tháp |
| 1249 | Nhà Trần sửa chùa, dựng trên nền cũ |
| 1426 | Vương Thông nhà Minh phá chuông Quy Điền lấy đồng |
| 1805 | Đắp thành Thăng Long thời Gia Long, cây cầu vồng trước chùa bị dỡ |
| Thế kỷ 19 | Các đợt trùng tu thời Nguyễn, dáng chùa gần như hiện nay |
| 1954 | Quân Pháp đặt mìn phá chùa trước khi rút khỏi Hà Nội |
| 1955 | Dựng lại, kiến trúc sư Nguyễn Bá Lăng phụ trách |
| 1962 | Xếp hạng di tích quốc gia đợt đầu |
| 2012 | Kỷ lục châu Á: ngôi chùa có kiến trúc độc đáo nhất |
1. Sự tích chùa Một Cột và năm 1049
Sử cũ chép ngắn: mùa đông, tháng 10 năm Kỷ Sửu (1049), dựng chùa Diên Hựu. Kèm theo là chuyện vua Lý Thái Tông mộng thấy Phật Quan Âm ngồi trên tòa sen, dắt vua lên tòa. Tỉnh dậy, vua kể với bề tôi, nhà sư Thiền Tuệ khuyên vua dựng chùa, dựng cột giữa hồ, đặt tòa sen của Quan Âm lên trên như trong mộng, rồi cho các nhà sư đi vòng quanh tụng kinh cầu vua sống lâu. Tên Diên Hựu (phúc lành dài lâu) có từ đó.
Một tấm bia năm Cảnh Trị thứ 3 (1665) đời Lê Huyền Tông kể khác: trước thời Lý, ở chỗ này đã có cột đá giữa hồ vuông, trên có lầu nhỏ thờ Quan Âm. Vua Lý Thái Tông thường đến cầu nguyện, sau sửa thành chùa và xây thêm một ngôi chùa bên cạnh, gọi chung cả quần thể là Diên Hựu tự.
1.1. Chuyện cầu con từ đâu ra
Chuyện vua Lý Thái Tông già mà chưa có con, cầu ở đây rồi sinh hoàng tử không có trong chính sử. Vua Lý Thánh Tông, con của Lý Thái Tông, sinh năm 1023, trước khi dựng chùa hơn 20 năm. Có dị bản kể chính vua Lý Thánh Tông mộng thấy Quan Âm trao cho một đứa trẻ, rồi năm sau sinh hoàng tử. Dù kể theo bản nào, niềm tin “chùa Một Cột linh về cầu tự” là của dân gian và vẫn còn đến nay.

2. Thời Lý: chuông Quy Điền và quần thể Diên Hựu
Năm 1080, đời Lý Nhân Tông, triều đình đúc một quả chuông lớn cho chùa Diên Hựu bằng 12.000 cân đồng. Sử chép chuông đúc xong đánh không kêu, nhưng vì đã thành khí nên không nỡ hủy, đem bỏ ở khu ruộng trũng nhiều rùa sau chùa, gọi là chuông Quy Điền (ruộng rùa). Chuông được xếp vào “An Nam tứ đại khí”. Năm 1426, khi bị nghĩa quân Lam Sơn vây ở thành Đông Quan, tướng Minh Vương Thông cho phá chuông lấy đồng đúc vũ khí.
Năm 1105, Lý Nhân Tông cho sửa chùa đẹp hơn trước: đào hồ quanh Liên Hoa Đài gọi là hồ Linh Chiểu, ngoài hồ có hành lang chạm vẽ chạy quanh, ngoài hành lang lại đào hồ Bích Trì, đều bắc cầu vồng để đi qua, trước sân chùa xây bảo tháp. Văn bia tháp Sùng Thiện Diên Linh ở chùa Đọi (năm 1121) cũng nhắc việc nhà vua xây chùa Diên Hựu ở vườn Tây Cấm, theo nền cũ và thêm ý mới.
Thời Lý, hằng năm ngày 8 tháng 4 âm lịch vua đến chùa làm lễ tắm Phật. Sau lễ là lễ phóng sinh, vua đứng trên đài cao thả chim, dân chúng tung chim bay theo.

3. Thời Trần, Lê: sửa lại rồi hoang phế
Năm 1249, nhà Trần “sửa lại chùa Diên Hựu, xuống chiếu vẫn làm ở nền cũ”. Thiền sư Huyền Quang (1254 đến 1334) có bài thơ “Diên Hựu tự” tả cảnh đêm thu, tiếng chuông, bóng đôi tháp in dưới nước, cho thấy thời đó quần thể vẫn còn tháp.
Đến thời Lê trung hưng, chùa xuống cấp nặng. Ghi chép thời ấy tả ao sen hoang tàn, hành lang đổ nát, chỉ còn cây cột với tòa lầu nhỏ trên đỉnh thờ tượng Quan Âm, phía trước có cầu vồng lợp mái. Năm 1805, khi đắp thành Thăng Long thời Gia Long, cây cầu này bị dỡ bỏ. Dân gian còn đồn đáy ao có nhiều kim sắt, cho là chỗ Cao Biền trấn yểm, chuyện này nhiều khả năng được thêu dệt về sau.

4. Thời Nguyễn: dáng chùa như hiện nay
Các đợt sửa chùa thế kỷ 19 tạo nên dáng chùa mà bản dựng lại năm 1955 theo. Năm 1838, Tổng đốc Hà Ninh Đặng Văn Hòa quyên tiền sửa điện, hành lang, gác chuông, tam quan. Năm 1864, Tổng đốc Tôn Thất Hàm làm sàn gỗ hình bát giác đỡ tòa sen, và chùa còn được trùng tu năm 1922. Chùa thời này đã được người Pháp chụp ảnh, vẽ ghi, in lên bưu thiếp và tem.

5. Năm 1954: chùa bị đánh mìn
Sau Hiệp định Genève, trước khi quân Pháp rút khỏi Hà Nội, chùa Một Cột bị đặt mìn phá sập. Ngày được ghi phổ biến là 10/9/1954, cũng có ghi chép nói là rạng sáng 11/9/1954 (rằm tháng Tám). Chất nổ giấu dưới bát nhang, chùa sập từ mặt sàn trở lên, nhưng pho tượng Quan Âm vẫn còn, chỉ rời mấy cánh tay gỗ chắp.
6. Năm 1955: dựng lại
Vài tháng sau khi tiếp quản Thủ đô, chính quyền quyết định dựng lại chùa, giao cho ông Nguyễn Bá Lăng, chuyên viên Sở Bảo tồn Cổ tích, nghiên cứu họa đồ và điều khiển công trường. Họa đồ dựa trên một ảnh chụp lập diện cuối thế kỷ 19 của Trường Viễn Đông Bác Cổ, nhờ vậy kích thước, độ dốc mái, đầu đao, lan can được phục lại khá sát.
Cột đá cũ và bộ con sơn bên dưới được giữ lại. Bản này theo dáng thời Nguyễn, không phải dáng thời Lý. Cách dựng, số đo cụ thể ở bài kiến trúc chùa Một Cột.

7. Từ 1958 đến nay
- 1958: cây bồ đề trong vườn chùa được Tổng thống Ấn Độ Rajendra Prasad tặng nhân chuyến thăm Ấn Độ của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chiết từ cây bồ đề ở Bồ Đề Đạo Tràng.
- 1962: chùa Một Cột cùng chùa Diên Hựu được công nhận di tích lịch sử, văn hóa cấp quốc gia đợt đầu tiên.
- 4/5/2006: Tổ chức Kỷ lục Việt Nam xác lập kỷ lục và đề cử lên Tổ chức Kỷ lục châu Á.
- 2012: tại Faridabad (Ấn Độ), Tổ chức Kỷ lục châu Á xác lập “ngôi chùa có kiến trúc độc đáo nhất”.
- 10/10/2020: nhóm SEN Heritage công bố phương án tái hiện Liên Hoa Đài thời Lý bằng hình ảnh 3D.

8. Đến chùa hôm nay, còn thấy gì từ lịch sử
- Cột đá và bộ con sơn: phần được giữ lại sau năm 1954, cột gồm hai khúc đá ghép lại.
- Hồ Linh Chiểu: hồ vuông có tên từ lần sửa chùa năm 1105.
- Chùa Diên Hựu bên cạnh: phần còn lại của quần thể xưa, cổng tam quan mang hoành phi “Diên Hựu tự”.
- Cây bồ đề: cây tặng năm 1958, trong vườn chùa.
Mình thấy đứng ở bờ hồ một lúc, nhìn ngôi điện nhỏ rồi nghĩ tới tòa Liên Hoa Đài thời Lý có hành lang, cầu vồng, bảo tháp bao quanh, mới hình dung được quần thể Diên Hựu xưa từng rộng đến đâu. Hình chùa nay còn in ở mặt sau đồng xu 5.000 đồng.
Muốn đến xem thì đọc bài kinh nghiệm tham quan chùa Một Cột, đi lễ thì xem văn khấn chùa Một Cột. Thông tin chung ở bài chùa Một Cột. Cùng thời Lý còn có Hoàng thành Thăng Long, nơi lưu giữ nhiều dấu tích cung điện của triều đại này.

Lịch sử chùa Một Cột hợp với ai muốn hiểu vì sao một ngôi điện nhỏ lại thành biểu tượng của Hà Nội, trước khi đến tận nơi. Mình dặn nhất là phân biệt phần sử chép với phần giai thoại, và nhớ ngôi điện hôm nay là bản dựng lại năm 1955 theo dáng thời Nguyễn. Chúc bạn có một buổi đến chùa thật ý nghĩa, đứng bên hồ Linh Chiểu mà thấy cả nghìn năm phía sau cây cột đá.



